BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Bandovietnam.jpg CangBien.jpg Dao.jpg Bandolotrinh.jpg TG10.jpg Van_chuyen_mau_trong_co_the.swf PHA_QUANG_HOP.jpg

    Cẩm nang phòng tránh đuối nước

    Lá cờ thêu sáu chữ vàng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 08h:14' 28-02-2024
    Dung lượng: 467.6 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Lá Cờ Thêu Sáu Chữ Vàng
    Nguyễn Huy Tưởng

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Hoài Văn tuổi trẻ chí cao
    Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công
    (Quốc sử diễn ca)
    I
    Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản vừa có một giấc mơ thú vị. Chàng mê thấy chính tay mình
    bắt sống được Sài Thung, tên sứ hống hách của nhà Nguyên, khinh nước Nam bằng nửa con
    mắt.
    Tháng trước, Sài Thung sang sứ, tự tiện qua Tử Cấm thành, ngang nhiên cưỡi ngựa đi thẳng
    vào cửa Dương Minh. Lính canh cửa ngăn lại thì Thung cầm roi ngựa quất túi bụi vào đầu
    người lính. Nó ỷ thế là quan nước lớn, chễm chệ ngồi ở quán sứ như ở nhà nó không bằng.
    Thượng
    tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải là bậc đại thần to nhất nước, đến quán sứ xin yết
    kiến. Sài Thung nằm trên giường, không thèm tiếp vị tể tướng của ta. Rồi nó bắt quan gia phải
    sang chầu Hốt Tất Liệt. Nó đòi ta phải cống bạc vàng, châu báu, đòi phải nộp người có tài khéo
    nghề tinh. Ai nấy đều bầm gan tím ruột. Nhưng vì không muốn để xảy ra chuyện can qua nên ai
    nấy đành nuốt cay ngậm đắng. Hoài Văn thì không chịu được. Hoài Văn chỉ nghĩ làm sao bắt
    được Sài Thung mà chẻ xác nó ra...
    Hoài Văn bắt được nó mà từ quan gia đến triều đình đều không ai biết. Hầu trói nó lại, đập
    roi ngựa lên đầu nó, và quát lớn: - Mày có còn dám đánh người chúng tao nữa không? Đừng có
    khinh nước Nam tao bé nhỏ!
    Sài Thung lạy Hoài Văn như tế sao. Hoài Văn đóng cũi giải nó về kinh. Thấy nó khóc lóc,
    Hoài Văn ôm bụng cười sặc sặc. Giữa lúc ấy thì chàng bừng tỉnh giấc. Chàng không thấy Sài
    Thung đâu cả, chỉ thấy mình vẫn nằm trong điện Lan Đình.
    Trần Quốc Toản giụi mắt, gạt tung cái chăn bông bọc vóc vàng và ngồi nhỏm dậy. Nội điện
    im ắng lạ thường. Quan gia và các vương hầu đâu cả? Mẩu nến đỏ trên cây nến đồng đặt trên
    một cái đôn men xanh kê ở gian giữa, còn cháy leo lét run rẩy trong ánh sáng buổi sớm đã tràn
    vào. Màn the lớn căng từ tường hoa ra tới gần cửa, nơi kê cái sập của Hoài Văn Hầu, vẫn còn rủ
    xuống. Gian bên kia, màn the cũng buông kín. Nhưng các chăn vóc thì đều lật tung, để lộ những
    nệm gấm giải sát vào nhau trên những sập rồng kê liền lại. Những cột rồng, những câu đối,
    hoành phi, những bức cửa võng lấp lánh son vàng. Hoài Văn như còn nghe văng vẳng tiếng nói
    chuyện của quan gia và các vương hầu, kéo dài mãi đến quá canh hai chưa dứt.
    Chiêu Thành Vương về kinh, hai chú cháu được quan gia giữ lại trong cung cấm. Hầu được
    cùng ăn uống với quan gia và các vị vương hầu. Tối thì trải gối dài, chăn rộng, kê giường nằm
    chung, thật là bốn bể một nhà, không phân trên dưới. ›n ấy, dù cho óc gan lầy đất, Hoài Văn
    phải nghĩ mà báo đáp. Khốn nỗi, chàng cứ bị coi là đứa trẻ con chưa ráo máu đầu. Mỗi khi Hoài
    Văn len vào góp chuyện thì các vương hầu nói:
    - Cháu còn nhỏ, chưa biết được việc quân quốc trọng sự.
    Nể các vị chú bác, Hoài Văn đỏ mặt làm thinh. Một hôm, Quốc Toản đánh liều thưa: - Cháu
    còn ít tuổi thật. Nhưng ví bằng quân Nguyên sang cướp nước ta, thì cháu cũng xin theo các chú,
    các bác đi đánh giặc.
    Các vị vương hầu cười ồ. Chú Chiêu Thành Vương nói:

    - Cháu có khẩu khí anh hùng. Thế mới là dòng dõi họ Đông A. Nhưng bây giờ thì cháu phải
    học đã, sao cho văn hay, võ giỏi rồi mới đi đánh giặc được.
    Các vương hầu lại quay vào việc nước, chẳng để ý đến Hoài Văn. Và sớm nay, quan gia và các
    vương hầu đột ngột đi đâu đâu mà không cho Hầu biết?
    Nhìn cái nội điện vắng ngắt, Hoài Văn tức đến phát khóc. Chàng mở toang các cánh cửa
    thâm nghiêm, nhảy xuống thềm. Được rồi! Các vương hầu ở đâu, ta tìm đến đó. Việc nước là
    việc chung, không cho bàn, ta cũng cứ bàn. Thử xem gan ai to, gươm ai sắc. Xem ta có lấy được
    đầu tướng giặc hay không?
    II
    Đấy là một thanh niên, không, đấy là một thiếu niên thì đúng hơn, vì Hoài Văn chưa tròn
    mười sáu tuổi. Bộ áo vóc lùng thùng, chưa bó sát vào tấm thân mảnh
    khảnh. Tay áo chét theo kiểu nhà võ còn quá rộng so với cổ tay. Hầu vấn khăn nhiễu như
    người lớn. Nhưng búi tóc còn quá nhỏ, tinh ý mới nhìn thấy được. Những mớ tóc quá ngắn xùm
    xoà sau gáy và hai bên má. Kể ra thì Hầu là người chóng lớn, như tất cả con trai họ nhà Trần.
    Với thân hình dong dỏng cao, với khăn áo chỉnh tề, với thanh gươm lớn bên mình, với bước đi
    nhanh nhẹn, hiên ngang, Hoài Văn làm cho những người mới thoạt nom thấy có thể ngỡ chàng
    là một bậc vương hầu đã từng xông pha trăm trận. Nhưng khi ngắm chàng tận mặt thì không ai
    nhầm được cả. Khuôn mặt trái xoan với đôi má phinh phính còn bụ sữa. Nước da trắng mịn
    óng ánh những lông tơ. Môi dày đỏ chót. Đôi mắt to đen, lòng trắng xanh biếc, vừa trong sáng
    vừa mơ màng. Đôi lông mày chưa rậm viền cong cong trên mắt làm cho chàng thêm vẻ thanh
    tú. Hầu xinh như một cô gái. Nhiều vương tôn công tử mong ước được đẹp như Hoài Văn.
    Nhưng Hoài Văn không thích thứ đẹp ẻo lả ấy. Chàng muốn có cái uy phong quắc thước của
    Hưng Đạo Vương, cái tài trí của Chiêu Minh Vương, cái sức khoẻ lẫm liệt của Bảo Nghĩa Vương.
    Chàng muốn có xương đồng da sắt. Chàng muốn xông vào giữa muôn trùng giáo mác, chém
    tướng giật cờ dễ như trở bàn tay.
    Quốc Toản chạy như bắn qua bao nhiêu vườn, bao nhiêu hồ, bao nhiêu tòa giả sơn, bao
    nhiêu lâu đài cung điện, Hầu không biết nữa. Hầu chạy một mạch khỏi Tử Cấm thành, tìm đến
    quán nghỉ của những người đi theo hầu, hỏi:
    - Đức ông đã ra đây chưa?
    Một người thưa:
    - Đại vương có ra đây, nhưng rồi đi từ tinh mơ.
    - Đức ông đi đâu?
    - Bẩm, vương tử không biết thì chúng con biết làm sao được. Chỉ thấy đức ông kéo quân ra
    bến đò. Đức ông có dặn
    chúng con nói với vương tử phải về Võ Ninh ngay, kẻo phu nhân ở nhà mong. Phu nhân cho
    đi một tháng, mà vương tử ở kinh thấm thoắt đã hai tháng rồi.
    Hoài Văn bậm môi vì tức giận. Chú đưa ta về kinh, nay lại bảo ta về một mình, là nghĩa thế
    nào? Hoài Văn nói: - Ta viết một lá thư. Một người mang về trình bà, thưa với bà rằng ta chưa
    về định tỉnh thần hôn được. Ta còn phải đi gặp đức ông đã.
    Giao thư cho một người mang đi xong, Hoài Văn nhảy phắt lên ngựa, cùng đám gia nhân
    phóng ra khỏi thành Thăng Long. Qua những câu chuyện nghe lỏm được trong cung, Quốc

    Toản đoán là quan gia hạ giá tới bến Bình Than để bàn việc nước với các vương hầu ở khắp
    bốn phương về. Hoài Văn vung roi quất ngựa luôn tay, mình cúi rạp trên yên, miệng thét mọi
    người phi nước đại...
    III
    Hoài Văn nằn nì thế nào quân Thánh Dực cũng không cho chàng xuống bến. Hầu đứng trên
    bờ, thẫn thờ nhìn bến Bình Than. Hai cây đa cổ thụ rủ bóng râm mát che kín cả một khúc sông.
    Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, đậu dài san sát, sơn đủ các màu.
    Trên mũi thuyền, phất phới những lá cờ hiệu của các vương hầu. Hiệu cờ của Chiêu Minh
    Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương, của Chiêu Thành
    Vương, chú ruột mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đình
    đều ở gần thuyền ngự. Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm thành hình một con rồng lớn rực rỡ
    son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng của đấng thiên tử.
    Hết thuyền của các đại vương là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các
    tước hầu, cuối cùng là thuyền của các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền
    của Hưng Võ Vương, Hưng Trí Vương, Hưng Hiếu Vương... Thì ra các con trai của Hưng Đạo
    Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta
    mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này! Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn
    những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa.
    Qua các cửa sổ có chấn song triện và rủ mành mành hoa của thuyền rồng, Hoài Văn thấy các
    vương hầu đang ngồi bàn việc nước với quan gia. Hoài Văn chẳng biết các vị đang nói gì.
    Nhưng bàn gì thì bàn, Hoài Văn dám chắc cũng chẳng ngoài cái việc lớn là cho quân Nguyên
    mượn đường vào đánh Chiêm Thành hay chống cự lại mà thôi. Dã tâm của quân giặc đã hai
    năm rõ mười rồi. Nó giả tiếng mượn đường, kỳ thực là để cướp sống lấy nước Nam. Chỉ có việc
    đánh, làm gì phải kéo ra tận đây mà bàn đi bàn lại? Chao ôi! Lúc này mà Hoài Văn được
    xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia, và xin quan gia
    cho đánh!
    Thuyền rồng im lặng. Tàn tán, cờ quạt và các đồ nghi trượng in màu vàng son trên mặt nước
    sông trong vắt. Chốc chốc lại thấy những người nội thị quỳ ngoài mui, dâng trầu cau, dâng
    thuốc. Hoài Văn muốn xô mấy người lính Thánh Dực để chạy xuống bến nhưng lại sợ tội chém
    đầu.
    Chàng muốn thét to: "Xin quan gia cho đánh", nhưng lại e phạm thượng! Mấy tháng ở kinh,
    thấy sứ Nguyên hạch sách đủ điều, Hoài Văn chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ lấy quốc
    thể. Rồi lại đến cái ngày quan gia mời các bô lão khắp bàn dân thiên hạ về kinh để nhà vua hỏi
    ý dân xem nên cho giặc mượn đường hay nên đánh lại. Các bô lão là những người quê mùa chất
    phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son, gác tía, chưa bao giờ được bàn việc nước,
    thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khẳng khái tâu lên: "Xin đánh", trăm miệng
    một lời, rung chuyển cả toà điện Diên Hồng. Những người áo vải ấy còn biết đường phải trái,
    huống chi ta là bậc tôn thất há lại không nghĩ được như họ hay sao? Đến họ mà quan gia còn
    hỏi kế, sao ta là người gần gụi, quan gia chẳng hỏi một lời?
    Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống. Hôm nay, đợi mãi
    từ sớm đến trưa, Hoài Văn thấy đói cồn cào, mắt hoa lên, đầu choáng váng, chân tay buồn bã.
    Hoài Văn không chịu được nữa. Đứng mãi đây cho đến bao giờ? Thôi thì liều một chết vậy. Ta
    cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội. Hoài Văn xô mấy người
    lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Một viên tướng hốt hoảng chạy tới, níu áo Hoài
    Văn lại. Quốc Toản tuốt gươm, mắt trừng lên một cách điên dại:

    - Không buông ra, ta chém!
    Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho
    chàng đứng đấy từ sáng. Nay thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói:
    - Quân pháp vô thân, Hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Nhược
    bằng khinh thường phép nước, anh em tất phải chiếu theo thượng lệnh.
    Hoài Văn đỏ mặt bừng bừng, quát lớn:
    - Ta xuống xin bệ kiến quan gia, không kẻ nào được giữ ta lại. Lôi thôi thì hãy nhìn lưỡi
    gươm này!
    Viên tướng tái mặt, hô quân sĩ vây kín lấy Hoài Văn. Quốc Toản vung gươm múa tít, không
    ai dám tới gần. Tiếng kêu, tiếng thét náo động cả bến sông.
    Vừa lúc ấy thì cuộc họp bàn ở dưới thuyền rồng tạm nghỉ. Vua Thiệu Bảo và nhiều vị vương
    hầu ra ngoài mui, ngắm cảnh sông nước. Nghe tiếng ồn ào trên bến, vua và các vương hầu nhìn
    lên, thấy Hoài Văn đang giằng co với một đám quân Thánh Dực. Vua hỏi:
    - Cái gì trên ấy?
    Quốc Toản nhìn xuống bến, thấy vua Thiệu Bảo đứng tựa đầu rồng dưới một cái tán vàng.
    Nhà vua còn rất trẻ, mặt đỏ như gấc chín. Đứng sau vua là Hưng Đạo Vương cao lớn, chòm râu
    dài đốm bạc bay theo chiều gió. Chiêu Thành Vương lật đật chạy lên bờ, hỏi cháu: - Cháu không
    sợ tội chết hay sao mà đến đây? Ai bảo cháu?
    Hoài Văn thưa:
    - Cháu nghe tin thiên tử họp với các vương hầu ở đây nên cháu đến.
    - Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước. Bên trong là tình họ hàng máu mủ, xuề xoà, thân
    mật với nhau thế nào cũng được. Nhưng ra ngoài là việc nước, có tôn ti, có phép tắc, không thể
    coi thường. Cháu tự tiện đến đây đã không phải, lại gây sự với quân Thánh Dực, đấy là tội chết.
    Chú cũng phải vạ lây. Sao cháu không nghe lời chú, về quê thờ mẹ, mà lại tự tiện vô cớ đến đây
    gây ra cái vạ tày trời này?
    Hoài Văn cúi đầu thưa:
    - Cháu biết là mang tội lớn. Nhưng cháu trộm nghĩ rằng khi quốc biến thì đến đứa trẻ cũng
    phải lo, huống hồ cháu đã lớn. Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước, nhưng cháu có phải là
    giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được? Vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo. Cha cháu mất sớm, cháu
    được chú nuôi nấng. Chú thường dạy cháu những điều trung nghĩa, cháu vẫn ghi trong tấc dạ.
    Cháu liều chết đến đây, chỉ muốn góp một vài lời. Thưa chú, chẳng hay quan gia cùng các
    vương hầu bàn định thế nào? Cho nó mượn đường hay đánh lại?
    - Việc đó còn đang bàn. Có người chủ chiến. Có người chủ hoà.
    Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên:
    - Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư? Không biết đấy là kế giả đồ diệt Quắc của
    nó đấy sao? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao mà lại bàn thế?
    Quốc Toản chạy xồng xộc xuống bến, quỳ xuống tâu vua, tiếng nói như thét:

    - Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.
    Nói xong, Hoài Văn run bắn, tự đặt thanh gươm lên gáy và xin chịu tội. Thiệu Bảo gật đầu,
    mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương và Hưng Đạo Vương cũng gật đầu. Lời nói của Hoài Văn chính
    hợp với ý của nhà vua và Hưng Đạo. Nhưng trong đám vương hầu, có một người sầm nét mặt.
    Đấy là Chiêu Quốc Vương ích Tắc. ích Tắc là kẻ chủ hoà. Chiêu Quốc Vương nói: - Hoài Văn Hầu
    làm loạn phép nước. Muốn trị nước phải trị người thân trước đã. Cúi xin quan gia cho chém
    đầu để nghiêm quân lệnh!
    Hoài Văn cúi rạp đầu xuống đất. Bên cạnh Hoài Văn, Chiêu Thành Vương cũng quỳ để xin
    chịu tội. Thiệu Bảo ôn tồn nói:
    - Hoài Văn Hầu làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không dung. Nhưng Hoài Văn còn trẻ, tình
    cũng đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng.
    Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy, và nói tiếp:
    - Việc nước đã có người lớn lo. Hoài Văn Hầu nên về quê để phu nhân có người sớm hôm
    trông cậy. Đế vương lấy hiếu trị thiên hạ, em ta không nên sao nhãng phận làm con.
    Vừa lúc ấy, một người nội thị bưng một mâm cỗ đi qua. Thiệu Bảo cầm lấy một quả cam
    sành chín mọng trên mâm, bảo nội thị đưa cho Hoài Văn. Vua nói: - Tất cả các vương hầu đến
    đây đều có phần cam. Chẳng lẽ Hoài Văn lại không được hưởng. Vậy thưởng cho em ta một quả.
    Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua, lủi thủi bước lên bờ. Đằng sau có tiếng cười của Thiệu
    Bảo và các vương hầu. Nghe rõ cả tiếng cười của mấy vị tước vương chỉ nhỉnh hơn mình vài
    tuổi. Vua ban cam quý. Nhưng việc dự bàn thì vẫn không cho. Hoài Văn tức, vừa hờn vừa tủi.
    Uất nhất là đám quân Thánh Dực cũng khúc khích cười chế nhạo. Hoài Văn quắc mắt, nắm chặt
    bàn tay lại. Được rồi! Ta sẽ chiêu binh mãi mã cầm quân đi đánh giặc. Xem cái thằng phải đứng
    ngoài rìa này có phải là một kẻ toi cơm không? Hai hàm răng Hoài Văn nghiến chặt. Hai bàn
    tay càng nắm chặt lại, như để nghiền nát một cái gì. Hai bàn tay rung lên vì giận dữ. Hoài Văn
    lẩm bẩm: "Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ
    biết tay ta". Hai nắm tay Hoài Văn càng bóp mạnh.
    Đám người nhà trông thấy Hoài Văn hầm hầm trở ra thì chạy ùa tới hỏi chuyện. Để đỡ
    ngượng với họ, Hoài Văn nói liều:
    - Ta đã tâu với quan gia cho đánh.
    Quan gia ban cho quả cam này. ›n vua lộc nước, ta đem về để biếu mẫu thân.
    Trần Quốc Toản xoè bàn tay phải ra. Quả cam đã nát bét chỉ còn trơ bã.
    IV
    Về đến phủ riêng, Hoài Văn chạy lên nhà trên vấn an mẹ. Quần áo của chàng bám đầy bụi,
    trán chàng ướt đẫm mồ hôi. Phu nhân ngồi trên sập, hai tay hơ trên lồng ấp, miệng xuýt xoa vì
    rét. Phu nhân hỏi:
    - Chú đâu mà con lại về một mình?
    Sao con đi lâu thế để mẹ ở nhà mong mỏi mắt?

    Hoài Văn nhìn mẹ già, vừa thương mẹ, vừa tủi cho mình. Phu nhân nói:
    - Cho con ngồi. Trời rét thế này, đi đâu mà quần áo xộc xệch, mặt mày ngơ ngác, mồ hôi mồ
    kê thế kia, con?
    Hoài Văn kể hết nỗi niềm tâm sự của mình cho mẹ và nói: - Con ở kinh sư hai tháng, thấy
    hàng ngày sứ Nguyên đi lại hống hách, làm những điều trái tai gai mắt. Nó bắt nộp người nộp
    của. Nó đòi phải tìm cho thấy cột đồng Mã Viện. Cột đồng đã bị vùi lấp đi rồi, còn tìm đâu ra
    dấu vết? Nó bắt phải cho con em sang làm con tin. Nó bắt phải để nó đặt quan giám sát mọi
    việc của triều đình...
    Phu nhân kêu khẽ:
    - Sao nó lại dám vô lễ đến như vậy!
    Triều đình bàn thế nào?
    - Quan gia đã bác hết. Nó lại đọc chiếu của vua nước nó, bắt quan gia phải lạy.
    - Có đời thuở nào như thế!
    - Nhưng quan gia cũng không chịu.
    Quan gia đúng là một bậc thánh nhân, là một ông vua nước nhỏ mà không chịu khuất phục
    uy vũ nước lớn. Thưa mẹ, nay quân Nguyên ngấp nghé ngoài quan ải, thái tử nhà Nguyên đưa
    thư sang, đòi mượn đường nước ta đi đánh Chiêm Thành, lại đòi ta phải cấp lương thực. Cho nó
    mượn đường là đưa thịt vào miệng hổ đói đấy, mẹ ạ.
    Nói đến đây, Hoài Văn quỳ sụp trước sập và thưa:
    - Con muốn xin mẹ một điều.
    - Con xin mẹ điều gì?
    - Thưa mẹ, thấy quốc sỉ mà làm thinh là hèn. Thấy quốc nạn mà chịu một bề, không phải là
    dũng. Con không được dự bàn việc nước, nhưng con không muốn khoanh tay ngồi nhìn quân
    giặc sang cướp nước. Các vị vương hầu đều thương con còn nhỏ. Quan gia bảo con phải về
    phụng dưỡng mẹ. Nhưng con trộm nghĩ, quân giặc đánh sang chỉ còn là chuyện sớm tối. Con
    cũng muốn theo gương các vương hầu, chiêu binh mãi mã, tích thảo dồn lương để đánh giặc
    giữ,
    cứu nạn nước. Mẹ giúp con để cho con nối được chí cha con, khỏi mang tiếng là trai thời
    loạn.
    Phu nhân đăm đăm nhìn đứa con trai duy nhất. Đứa con mảnh dẻ như nữ nhi, yếu như cánh
    hoa chưa chịu được sương gió. Phu nhân rùng mình, nghĩ lại ba mươi năm trước, quân Nguyên
    đã kéo sang, ngựa nhung nhúc đầy đồng nội. Giặc đi đến đâu thì cỏ không mọc được, ruộng
    nương trơ trụi, làng mạc cháy hết, trâu bò không còn. Đến khi đuổi được giặc thì người chết
    như rạ, đất nước tan hoang, kinh đô biến thành tro bụi. Thuở ấy, đức ông phải dấn mình vào
    vòng khói lửa. Phu nhân thì dẫn mẹ chồng đi chạy loạn, trải biết bao nhiêu gian truân cơ cực.
    Nay mà lại nổi can qua, thì lại là cảnh thịt nát xương tan, đầu rơi máu chảy, mệnh người như cỏ
    rác. Phu nhân đã già rồi, chân yếu tay mềm, biết có chạy được không? Khi xưa, phận làm vợ
    dám đâu mong đức ông ở lại bên mình. Nhưng nay là mẹ, há lại chẳng bảo được con ở nhà đỡ
    mẹ hay sao? Người mẹ rùng mình, nhắm nghiền mắt lại. Con ta sức như đào tơ liễu yếu, đánh

    làm sao được bầy lang sói.
    Quốc Toản hỏi:
    - ý mẹ thế nào?
    - Để cho mẹ nghĩ đã.
    - Giặc kéo sang không biết lúc nào.
    Không liệu trước e trở tay không kịp, mẹ ạ.
    - Đợi chú con về, mẹ hỏi xem thế nào đã.
    Quốc Toản lắc đầu một cái cương quyết. Người mẹ nói: - Con ơi! Cha con mất sớm. Trước
    khi nhắm mắt, cha con dặn chú trông nom. Mẹ là phận gái chữ tòng, mọi việc phải hỏi chú đã.
    Con ngồi lên cho mẹ hỏi đây.
    Quốc Toản vẫn quỳ trước sập. Chàng nói:
    - Mẹ hỏi chú thì chú không cho đi đâu. Cốt là mẹ. Mẹ nhất định đi mới được. Con thề với mẹ
    sẽ chém đầu giặc dữ, rửa thù cho nước non.
    Người mẹ đã biết tính con. Nó giống đức ông xưa, đã quyết thì hành. Vả lại, mẹ dạy con đạo
    trung quân ái quốc, há lại
    ngăn con không giữ phận thần tử hay sao? Phu nhân nói:
    - Mẹ không phải là người muốn cho con giữ được chữ hiếu mà mất chữ trung...
    Quốc Toản nhoẻn miệng cười, cái miệng tươi như hoa còn dễ hờn, dễ khóc như miệng mọi
    đứa trẻ thơ ngây. Phu nhân cố cầm giọt lệ đọng trên mi mắt: - Mẹ chỉ thương con còn nhỏ quá...
    Mặt Hoài Văn tái đi:
    - Con không còn nhỏ nữa. Con đã biết nghĩ rồi.
    - Trong tay con không có khí giới, người nhà bất quá vài chục tên, con đi đánh giặc bằng gì?
    Giọng nói của Hoài Văn trở nên rắn rỏi:
    - Mẹ giúp con thì việc lớn sẽ thành.
    Mẹ ơi! Giáp trụ của cha con đâu? Binh thư của cha con đâu?
    Mắt người mẹ hoa lên. Phu nhân mím miệng khẽ lắc đầu rồi lại gật đầu. Phu nhân chỉ thấy
    lấp loáng cái bóng mảnh khảnh của con trai chạy ra ngoài sân và nhảy lên lầu của đức ông mà
    mười hai năm nay, phu nhân vẫn khoá kín.
    Phu nhân cho gọi người tướng già vẫn theo đức ông đi trận mạc ngày xưa, và hỏi: - Nay Hoài
    Văn Hầu muốn khởi binh đi đánh giặc. Ta sợ con ta còn trẻ. ạng nghĩ thế nào?
    Người tướng già thưa:

    - Vương tử có chí lớn, thật xứng đáng là con một bậc hổ tướng.
    - Khi sinh ra nó, đức ông chỉ cầu trời khấn phật cho nó trở nên một người văn võ toàn tài.
    Văn thì ta dạy, ta biết sức con ta, nhưng võ của nó thì sao?
    - Vương tử rất chăm học võ, múa gươm đã khá nhanh, giương cung đã khá mạnh, phi ngựa
    thì không biết mỏi.
    Phu nhân đưa cho người tướng già ba lạng bạc và nói:
    - Ta thưởng công ông dạy dỗ con ta.
    Nhưng con ta còn non dại, chưa quen
    chinh chiến. Ta nhờ ông giúp con ta nên người võ nghệ cao cường. Khi con ta ra trận thì ông
    theo nó.
    Người tướng già vái tạ và thưa: - Xưa chúng tôi theo đức ông thế nào thì nay theo vương tử
    cũng như vậy. Xin phu nhân cứ yên lòng. Tôi đã ngoài bảy mươi rồi, nhưng sức còn mạnh. Tôi
    sẽ giúp vương tử đi đến đâu giặc tan đến đấy.
    V
    Chiêu Thành Vương ở hội nghị Bình Than về ấp thì được tin chị dâu đã bằng lòng cho Hoài
    Văn đi đánh giặc. Vương vội vàng chạy sang. Vương nói:
    - Em nay về, trước là bái yết từ đường , sau là vấn an chị, sau nữa là mộ thêm binh lính. Em
    chỉ ở nhà độ vài ngày rồi lại trở về kinh sư đợi mệnh. Việc nước chúng em lo, việc nhà đành
    trông vào chị. Em nghe nói chị cho cháu Toản mộ binh đi đánh giặc. Em nghĩ thế này: chí cháu
    thì đáng khen, nhưng tuổi cháu còn nhỏ quá. Quân giặc đã hung hãn, lại thiện chiến. Đến chúng
    em đã từng xông pha trận mạc mà còn thấy lo, huống hồ là cháu đã biết việc binh là gì? Vả
    chăng, chi họ nhà ta, anh thì mất sớm, em thì đường tử tức còn muộn mằn. Nối dõi tông đường
    sau này trông cả vào cháu Toản, nhỡ nó có mệnh hệ nào, thì khi trăm tuổi, chị em ta xuống
    suối vàng gặp anh thì sẽ nói sao? Cứ như ý em thì phải giữ cháu ở nhà. Chị đã già. Nay mai gặp
    bước loạn ly, chị phải có cháu ở bên mình để sớm hôm giúp đỡ. Em đi phen này đã thề một
    chết, không biết có còn gặp chị nữa không. Trước khi đi em xin bàn với chị như vậy.
    Phu nhân nói:
    - Anh không được trời cho tuổi thọ,
    may mà còn chú. Mọi việc trong nhà chị trông vào chú cả. Chị cũng nghĩ như chú. Nhưng chị
    biết nói thế nào với cháu? Cháu hư thì mới răn bảo khuyên can. Đằng này cháu xin đi phò vua
    giúp nước. Chị đã dạy cháu học hành kinh sử, há lại
    bảo cháu làm trái đạo thánh hiền được sao? Chú nghĩ thế nào, xin chỉ giáo cho chị.
    Hai chị em ngồi nói chuyện rất lâu. Trán hai người đều nhăn lại. Cuối cùng, Chiêu Thành
    Vương nói:
    - Em chỉ lo nó còn trẻ, văn chưa thông, võ chưa giỏi, sức chưa kham được những cảnh màn
    sương gối tuyết. Chứ như cháu đã lớn thì chị em ta làm gì còn phải bàn luận dài dòng. Nhưng
    em đã có cách. Để em bảo cháu...
    Vương cùng mấy người hầu cận ra bãi tập của Trần Quốc Toản. Từ hôm về, suốt ngày Hoài
    Văn luyện tập trên một bãi rộng có nhiều gò đống cao thấp nằm bên một con ngòi. Hoài Văn

    tập nhảy qua các gò đống, tập bơi hụp dưới nước, tập khuân đá tảng, chém cây to, cưỡi ngựa
    phóng tên... Tinh mơ Hoài Văn đã ra đây, chiều nhá nhem tối mới trở về.
    Khi Chiêu Thành Vương tới bãi tập thì thấy Quốc Toản cởi trần đóng khố để lộ
    nước da trắng trẻo. Lố nhố chung quanh là những trai tráng trong làng, cũng đóng khố cởi
    trần, mình đen trùi trũi. Người tướng già cũng ngồi trong đám vật. Trông thấy Chiêu Thành
    Vương, người tướng già phục xuống lạy. Hoài Văn đang mải vật với một anh trai làng. Anh này
    nằm dán xuống đất. Hoài Văn nằm trên, nhưng loay hoay mãi, không lật ngửa anh kia ra được.
    Vai và lưng Hoài Văn đỏ tấy, hằn lên những vết ngón tay của đối phương. Chiêu Thành Vương
    đứng xem, ngứa mắt nói to:
    - Kéo gọng vó lên! Đánh vật chưa biết miếng. Toản đánh miếng gọng vó, mau...
    Bấy giờ Hoài Văn mới biết là chú đến, vội buông anh bạn, sụp xuống lạy. Chiêu Thành
    Vương bảo Hoài Văn:
    - Đánh vật là nghề riêng của họ nhà ta. Cháu ham đánh vật như vậy, chú rất mừng. Nhưng
    đánh vật mới là trò chơi mà cháu còn lúng túng như thế, thì đến khi đánh giặc thật, cháu còn
    lúng túng đến thế nào. Bây giờ cháu thử vật với chú một
    keo. Cháu vật được chú thì chú bằng lòng cho cháu đi đánh giặc.
    Mọi người đều tưởng rằng vị đại vương chức trọng quyền cao nói đùa. Không ngờ Vương đã
    cởi áo, đóng khố. Vương đã ngoài bốn mươi tuổi, nhưng thân hình nở nang, bắp thịt rắn như
    sắt, người chắc như một hòn đá tảng. Vương cười và ung dung bước vào xới vật. Hoài Văn đang
    hăng như một con gà chọi. Hoài Văn nói:
    - Chú cho phép thì cháu xin hầu vật.
    Hai chú cháu quần nhau trên xới vật. Tay Quốc Toản bắt vào tay chú như cành que đập vào
    phiến đá. Ba keo thông luôn, Hoài Văn bị quật ngã trắng bụng. Nhưng anh chàng vẫn hăng máu
    xin vật nữa. Người chú ruột cười khà khà: - Chú khen cháu là kẻ có gan to, thua mà không nản
    chí. Nhưng cháu còn phải tập nhiều, chưa đánh giặc được đâu. Cháu có biết rằng quân Nguyên
    thằng nào cũng khoẻ như Trương Phi cả không?

    - Hàn Tín ngày xưa trói gà không nổi sao đánh được Hạng Vũ có sức bạt núi cử đỉnh?
    - Hàn Tín là bậc đại tướng, ta không nên so sánh. Còn như đã gọi là ra trận thì phải có sức
    khoẻ tuyệt luân như Anh Bố, Bành Việt mới được. Cháu còn tập môn gì nữa nào? Cháu có biết
    quân Nguyên cưỡi ngựa không cần cầm cương, ngồi trên ngựa như ta đi dưới đất, có tài bắn
    trăm phát trăm trúng không?
    - Cháu xin bắn thử chú xem.
    Hoài Văn dẫn chú đến chỗ tập bắn, rồi đeo cung tên nhảy lên ngựa, chạy ra xa, xa đến khi
    nhòm lại điểm hồng tâm chỉ bé bằng hạt gạo. Quốc Toản nhìn thẳng hồng tâm, giương cung lắp
    tên, bắn luôn ba phát đều trúng cả. Mọi người reo hò khen ngợi. Người tướng già cũng cười, nở
    nang mày mặt. Chiêu Thành Vương gật đầu:
    - Cháu bắn đã khá, chú mừng cho cháu. Nhưng cháu phải luyện tập nữa mới đánh giặc được.
    Cháu xem chú bắn đây này.

    Vương nhảy phắt lên ngựa, chạy xa hơn Trần Quốc Toản. Vương vẫn phóng ngựa, không
    xoay mình, chỉ quay đầu lại, giương cung lắp tên. Mũi tên bắn trúng và mạnh đến nỗi những
    mũi tên của Trần Quốc Toản cắm vào hồng tâm đều rơi xuống đất. Khi Vương quay ngựa trở
    lại, mọi người đều lạy rạp, bái phục tài bắn của Vương. Vương bảo Hoài Văn: - Chú mong cháu
    khôn lớn, trở thành người tôi hiền tướng giỏi. Nhưng nay cháu còn nhỏ, chưa lượng sức mình
    mà cứ đi đánh giặc, thì e rằng sẽ chuốc lấy cái hại vào mình. Chú nói thế để cháu biết bụng chú.
    Vương lại bảo người tướng già: - ạng nên giúp cậu luyện tập thêm. Ta phải ra trận, không
    thể ở nhà mà bảo ban cháu ta được.
    Chợt trông thấy một cái hố dài để tập nhảy. Vương cười và hỏi:
    - Ngắn thế này thôi ư?
    Chiêu Thành Vương cùng mọi người đào thêm cái hố dài đến hai trượng. Trong lòng hố
    Vương cho cắm chi chít những giáo mác và tre vót nhọn, cái cao cái thấp. Làm xong, Vương
    nhảy phắt một cái qua hố, nhẹ như con sóc, mặt thản nhiên không động. Mọi người đều lắc đầu
    lè lưỡi. Hoài Văn định nhảy liều. Người tướng già ngăn lại. Chiêu Thành Vương nói: - Cháu cố
    tập thêm rồi hãy nhảy. Sao cho người nhanh như cắt, lòng tĩnh như trời xanh, nhảy qua chông
    gai như không, thì đến khi đứng trước giặc dữ mới không nhụt nhuệ khí, cháu đã nghe chưa?
    Vương đi rồi, mọi người vẫn trầm trồ khen ngợi sức khoẻ của Vương. Hoài Văn hỏi người
    tướng già: - ạng xem ta ra trận được chưa? Làm thế nào cho ta bằng chú ta được?
    - Vương tử không lo. Vương tử chưa tập được là bao, thế tất phải kém đại vương đã dày công
    luyện tập. Phương ngôn có câu: có công mài sắt, có ngày nên kim. Xin vương tử gia công luyện
    tập, có chí thì thành.
    - Phải tập cho nhanh. Giặc sang đến nơi rồi. Ta sẽ học tập cả ngày lẫn đêm. Chí ta đã quyết,
    dù cho khó nhọc đến đâu, ta cũng chẳng sờn lòng.
    VI
    Khi Chiêu Thành Vương dựng cờ lên thì trai tráng kéo đến dưới cờ đông như hội. Những
    người đã theo về với Hoài Văn cũng chạy cả sang hàng ngũ Chiêu Thành Vương. Sắp xếp đội
    ngũ xong, Vương cất quân rầm rộ lên đường.
    Hoài Văn nói với người tướng già:
    - Trai tráng đi theo chú hết rồi. Lấy đâu ra quân nữa?
    Người tướng già nói:
    - Người thì có bao giờ hết được?
    Muốn cho người ta tin theo, phải có danh chính ngôn thuận. Cứ như ý tôi, ta phải chịu khó đi
    vào các thôn xóm nói rõ cho mọi người biết được nghĩa lớn. Dân gian ai chẳng có lòng trung
    quân ái quốc? Tôi được biết ở Võ Ninh ta có nhiều bô lão được thiên tử vời về điện Diên Hồng
    hỏi kế, ta nên gặp những người ấy. Các cụ đã quyết chí đánh giặc, há lại không gióng giả bảo
    người trong họ ngoài làng theo về với vương tử hay sao? Lo gì không có quân!
    Quốc Toản mừng lắm, nói:

    - ạng đã vén cho ta một đám mây mờ.
    Từ đấy, ngày nào Hoài Văn cũng xuống các thôn xóm, vận động bà con đứng lên cứu nước.
    Một hôm, đã khuya lắm, Hoài Văn còn chong đèn trên lầu. Quốc Toản nghĩ: "Chú ta dựng cờ lên
    là thiên hạ nô nức đến. Ta cũng phải có một lá cờ. Lá cờ nêu rõ chí ta". Suốt từ chập tối đến
    canh hai, Hoài Văn tự hỏi: "Ta sẽ viết chữ gì trên lá cờ của ta? Chữ đề phải quang minh chính
    đại như ban ngày. Chữ đề phải là một lời thề quyết liệt. Chữ đề phải làm cho quân sĩ phấn khởi,
    cho kẻ địch kinh hồn". Trống đã điểm canh ba. Mắt Hoài Văn bỗng rực sáng, toàn thân như
    bừng bừng cháy. Tay Hoài Văn giơ lên như đang phất một lá cờ. Hoài Văn thét lớn: phá cường
    địch báo hoàng ân
    Hoài Văn nhẩm đi nhẩm lại:
    - Phá cường địch, báo hoàng ân. Báo hoàng ân, phá cường địch. Phá cường địch...
    Chàng gật gù, sung sướng. Sáu chữ đối nhau chan chát, lời đanh thép, ý hùng hồn. Chàng lấy
    hết gân tay viết sáu chữ lên một tờ giấy điều. Chàng mơ màng thấy lá cờ sáu chữ tung hoành
    trên các trận, và chàng thì đang trỏ giáo, vung gươm chém đầu tướng giặc. Hoài Văn định nhảy
    xuống lầu để khoe với người tướng già sự khám phá mới mẻ của mình thì chợt có tiếng chân
    bước nhẹ lên lầu. Quốc Toản nhìn ra thì chính là mẹ. Chàng chìa tay đỡ mẹ lên. Phu nhân khẽ
    hỏi:
    - Sắp sáng rồi, sao con thức khuya thế? Mẹ thấy con ngày một võ vàng. áo đâu mà phong
    phanh thế kia?
    Quốc Toản có gầy đi nhiều. Hầu lại chỉ mặc một áo lót mỏng, vì Hầu muốn luyện cho mình
    thành một người có thể dãi gió dầm mưa, chịu đựng được mọi nỗi vất vả của sa trường. Quốc
    Toản đỡ mẹ ngồi lên kỷ và thưa:
    - Con để mẹ phải lo nghĩ, con thật mang tội bất hiếu. Nhưng giặc sắp kéo sang, có muốn ở
    yên cũng không được. Phải tập khổ cho quen đi.
    Phu nhân cầm lấy tờ giấy hồng điều trong tay con. Trên tờ giấy viết sáu chữ lớn: "Phá cường
    địch, báo hoàng ân", nét bút gân guốc. Phu nhân không nói, lặng nhìn sáu chữ, mừng thầm cho
    con có chí khác thường. Quốc Toản nói:
    - Con muốn dựng một lá cờ đề sáu chữ này để chiêu binh mãi mã. Nay mai ra trận, con sẽ
    phất lá cờ ấy thề sống chết với quân thù. Mẹ may cho con lá cờ ấy nhé. Đến khi xông pha chiến
    trận, con nhìn lá cờ là thấy được mẫu thân.
    Phu nhân xoa đầu con, và Hoài Văn gục đầu lên gối mẹ. Phu nhân nói: - Mẹ đã không giữ con
    ở nhà, thì làm gì không may nổi ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là con đường không bao giờ có điểm dừng, càng đi càng tạo ra lối mòn.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHẠM THÁI- KINH MÔN - HẢI DƯƠNG !