BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Bandovietnam.jpg CangBien.jpg Dao.jpg Bandolotrinh.jpg TG10.jpg Van_chuyen_mau_trong_co_the.swf PHA_QUANG_HOP.jpg

    Cẩm nang phòng tránh đuối nước

    Bóng nước Hồ Gươm tập 2

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 16h:42' 18-04-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Chương I
    Chương II
    Chương III
    Chương IV
    Chương V
    Chương VI
    Chương VII
    Chương VIII
    Chương IX
    Chương X

    Table of Contents

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Chương I

    Buổi sáng đầu xuân quang đẹp. Mặt trời lên cao tỏa ánh nắng vàng tươi ấm dịu làm tưng
    bừng hẳn bầu không khí sớm mai. Gió hiu hiu nhẹ nhàng từ bên phía Bát Tràng thổi lướt qua
    sông Cái vào ven đê rung rinh phe phẩy những bụi cây, cành lá bên đường. Những con chim
    nhỏ bay liệng tắm nắng và lách chách, ríu rít nhảy chuyền qua từng cành, từng bụi cây. Và mải
    mê với nắng và mồi, chúng rất dạn người, thường đưa mắt ranh mãnh nhìn khách qua đường.
    Nhưng khách đi đường phần nhiều ở dưới thuyền mới lên bộ, đều vội vã đi ngay, không ai để ý
    gì đến cảnh vật chung quanh, nên cũng chẳng ai vạ gì hoài hơi đi khua quấy đàn chim nhỏ đang
    nô giỡn hát vui với ánh mặt trời. Chỉ có người, áng chừng một văn nhân mơ mộng cũng đi từ
    dưới bãi lên đê, nhưng hễ thấy con chim nào bất kể là chim sẻ hay chim vành khuyên, chào
    mào hay sáo, con nào cũng tỏ ra bạo dạn, cứ giương mắt ra nhìn có vẻ chế giễu, là ông ta xô
    đến đuổi ngay làm cho những con chim ấy cuống cuồng bay đi, vừa bay vừa hót như có ý
    nguyền rủa.
    − Chết! Chết tiệt!
    Nghe hay hay, người khách bật cười tự nhủ:
    − Mày rủa ông chết à? Đầu năm xuân mới mà mày độc địa thế à? Rồi mải đuổi theo ý nghĩ
    đang nung nấu trong lòng: “Chúng mày sống vui vẻ nhởn nhơ, dễ ông không được sống vui vẻ
    nhởn nhơ à? Vô lý! Ai cũng có quyền tìm được cách sống sung sướng, chúng mày không được
    nguyền rủa ông chết! Chúng mày sẽ phải chết trước! Nghe không?”.
    Khoái chí vì những ý nghĩ ngộ nghĩnh ấy, ông vừa đi vừa nhặt những hòn đất rắn, gạch vụn ở
    đường, vừa ném đuổi những con chim nhảy nhót trên cành hay ở vệ đường làm cho những
    người qua lại cũng phải phì cười về cái tính lẩn thẩn ấy. Nhưng không phải ông lẩn thẩn đâu.
    Ông nghĩ thế thật, và ông cứ nhẩn nha như thế đi lên phía Đồn Thủy, định nhân buổi trời xuân
    trong đẹp này, (vả lại là buổi rỗi rãi không ai biết đến mình) để xem quang cảnh nơi nhượng
    địa kia thế nào? Mười lần tai nghe không bằng một lần mắt thấy, ta thử đi qua một lượt mục
    kích xem sao! Dòng suy nghĩ đi xa, ông không ném chim nữa, và cũng đã đến nơi rồi: kìa dưới
    sông, trên làn nước đỏ sẫm gạch cua chảy xiết, hơn chục cái thuyền ván, cột buồm sừng sững,
    trên ngọn mỗi cột một lá cờ ba sắc trắng, đỏ, xanh thẫm phần phật bay theo chiều gió, như cố
    nhoai cho thành một hàng dài. Bên ngoài dãy thuyền là ba cái tàu lớn hai tầng sơn trắng, ống
    khói tròn như cái cót lúa ở giữa nóc tàu đang từ từ bốc lên một làn khói mỏng. Ở phía mũi tàu
    quay ra giữa sông một lá cờ ba sắc lớn hơn một cái chiếu đang phất phơ trước gió, trông có vẻ
    như cờ lệnh của viên tướng chỉ huy, chỉ huy cả đoàn thuyền. Các thuyền đều im lặng tắm trong
    nắng sớm. Riêng trên những tàu là náo nhiệt những binh lính đi lại, lên xuống, xì xồ và hát
    nghêu ngao như bò rống. Tiếng hát vọng lên đến trên bờ, thì ở trên này cũng có tiếng xì xồ hát
    đáp lại cũng như bò rống, hổ gầm, ông khách bật lên tiếng cười chế nhạo, tự nghĩ:
    − Thế mà cũng hát với hỏng.
    Nhưng ông ngừng ngay vì chợt trông thấy ở trên bãi, bên trong hàng rào tre, rào cánh sẻ có
    tiếng hô nhịp “ắc đê,... ắc đê”1 và nhìn thấy từng hàng đội binh lính bước đi đều đặn. Nhìn theo
    đoàn người nhịp nhàng tiến bước, ông đưa mắt nhìn bao quát cả cái khu nhượng địa mới xây
    dựng này. Ồ! Cái nơi đất bãi bồi ngoài bến Tây Luông mà mấy năm trước mình đã qua đây chỉ
    thấy cát và bùn, thì bây giờ đã thành một khu dinh cơ bát ngát và nguy nga: một nhà gạch hai
    tầng ở giữa cao vượt lên trên hàng cây, từng ô cửa chữ nhật sơn xanh đóng khung lên những
    bức tường vàng, chung quanh là những dãy nhà ngang dọc, cũng mái ngói tường gạch, cửa
    xanh trên nền tường vàng... Và bên ngoài nữa, gần sát với đê La Thành, bức tường thấp bên
    trên cắm rào sắt và rào gỗ cũng sơn xanh, trông thẳng tắp. Tất cả cái khung cảnh xinh xắn,
    diêm dúa, mới mẻ ấy nối tiếp ngay với đoàn tàu thuyền kia nổi bật lên thành một khu cảnh trí
    riêng biệt, như một thế giới khác ở bên sông Hồng, sát nách cái thành trì cổ lỗ. Thì ra người
    Tây họ văn minh hơn mình thật, họ gọn gàng, ngăn nắp, và nhất là cũng đất ấy lại là khu đất
    ngoài bờ sông dễ lở, cũng những vật liệu ấy, mà họ khéo xây đắp lên một nơi như tiểu thần tiên

    vậy, không đồ sộ lộng lẫy, nhưng mà đẹp, đẹp hơn cả dinh quan Tổng đốc trong thành. Họ giỏi
    hơn mình thật, đi đến đâu là họ lập thành cơ ngũ vững vàng hẳn hoi! Ô kìa! Mà sao đến buôn
    bán mà lại chả thấy hàng hóa gì mấy, mà lại toàn là binh lính và súng ống tập tành thế này? Ông
    khách gật gù tự đáp, tự cho như là một sự khám phá mới lạ:
    − Binh dĩ vệ thương, thương dĩ dưỡng binh2.
    Đúng rồi! Phải có sức mạnh mới buôn bán được! Làm gì cũng vậy, cũng cần phải có sức
    mạnh, có quyền, có thế! Mà đây họ lập cơ ngơi cố thổ thế này, lại tập tành rèn luyện thế kia là
    họ định tạo đủ sức mạnh ở mãi đây đây!
    Tự nhiên ông nghĩ đến nước mình, đến dân mình rồi đến bản thân mình, ông nghĩ đến tấm
    thân nam nhi ngoài ba mươi tuổi mà vẫn chưa thành dân phận gì, nào có phải kém cỏi gì cho
    cam, cũng có học có tài như ai, rốt cục cũng chỉ vì chưa có thế, chưa có sức mạnh mà thôi. Ông
    vừa nghĩ về bản thân mình vừa đi sát vào hàng rào xem bọn lính Tây tập. Ông mải mê đi, cứ
    lững thững đến gần cổng chính mà không biết. Bên trong cổng, một anh lính Tây đã chú ý đến
    ông từ trước nhất là chú ý đến cái khăn gói đỏ khoác trên vai và cái nón lông đen chóp bạc sáng
    nhoáng phản ánh tia nắng mặt trời ở trên đầu ông. Hắn để cho ông lại gần, liền chạy xô ra,
    đứng ngăn trước mặt ông và hỏi bập bẹ bằng giọng Sài Gòn:
    − Cái chi?... Cái chi?...
    Ông khách hoảng sợ toan ù té chạy, nhưng không kịp nữa, tên lính đã chộp lấy vai ông, rồi
    một tay nắm chặt tay ông, một tay gỡ cái nón chóp đội lên đầu mình và tháo khăn gói khoác
    lên vai. Đoạn hắn buông ông ra cười hề hề đi ngoắt trở vào trong cổng. Ông cố chạy theo vào
    định níu áo hắn lại và đòi:
    − Trả nón gói tôi đây! Trả tôi đây!
    Tên kia vẫn cười hề hề rảo bước, tên lính đứng canh ở vọng canh bên trong cổng vác súng và
    lưỡi lê cản ông ra. Thất kinh vì những đồ binh khí sáng loáng ấy ông đứng ra bên ngoài cổng
    chắp tay vái lấy vái để, xin lại hành lý. Tên lính canh không hiểu tiếng nói, cứ xua tay lắc đầu từ
    chối. Vẫn điệu bộ ấy đối đáp với nhau mãi. Một người đàn bà gánh rau lên phố bán đi qua trông
    thấy vậy liền bảo:
    − Bác hỏi cái gì vào chỗ nhà “đoan” kia kìa, nhờ người ta nói hộ, ở trong ấy có thông ngôn
    đấy.
    Ông khách vội chạy theo bà hàng rau, và theo tay bà ta chỉ, đi vào cái nhà gỗ lợp tranh liền
    ngay đấy. Ở đây có đông người ra vào. Ông chạy thẳng đến gần người đang ngồi biên chép ngay
    cửa vào và nói nhờ giúp hộ. Người ấy ngẩng lên nhìn và hỏi:
    − Anh buôn gì?
    Ông nói lại rõ sự việc xảy ra và nhờ người ra nói giúp xin hộ nón và khăn gói. Người kia thản
    nhiên nói:
    − Anh lại ô Hàng Cau nhờ ông Cử em.
    Ông cứ nằn nì nhờ xin hộ, và cố phân trần rằng chỉ cần biết được tiếng họ là lấy lại được nón,
    gói thôi. Người kia lạnh lùng nói:
    − Đây chỉ có việc tính thuế và khai hàng xuất nhập thôi, anh xê ra cho người ta làm việc.
    Ông càng thêm chán ngán đứng tần ngần nhìn lên cái biển gỗ sơn then có hàng chữ vàng “Đại
    Phú quốc thương chính tòa” viết rất chân phương đĩnh đạc, ông càng thêm bực tức, nghĩ bụng
    “Thì ra nơi nha môn nào cũng vậy mà thôi, ở đâu cũng thế cả”. Ông lẩm bẩm nói lên thành
    tiếng như có ý nguyền rủa:
    − Tệ thật, hễ là thương chính thì chỉ làm việc buôn bán thôi ư! Không giúp đỡ ai được việc gì
    nữa à?

    Một người đàn ông chít khăn đầu rìu mặc áo cộc nâu năm thân cài dải đang đứng đợi ở đấy
    nghe thấy vậy nói ngay:
    − Ông muốn hỏi gì cứ ra cửa hiệu Lạc Phố mà nhờ ông Cử.
    Người ấy ghé vào tai ông, nói thấp giọng:
    − ... Mọi việc ở đây, họ xua ra đấy cả. Họ ăn cánh với nhau mà. Đứng đây cũng vô ích!
    Thôi đành cũng phải ra đấy vậy. Vốn đã nghe danh đồn đại nhiều về lão Cử này, nay lại phải
    tự phơi mặt ra với lão, nhờ vả lão, thì xấu hổ chết! Mà lại nhục nữa! Chẳng gì thì cũng là một vị
    quan của triều đình! Nhưng được cái lão ta chưa biết mặt mình, thì cứ giấu nhận là anh đồ
    Nghệ nào đó mà chả được, miễn là xong việc thì thôi. Nghĩ vậy, ông khách quả quyết đi thẳng
    lên phía cửa ô trên, tìm vào cửa hiệu của ông Cử em. Đây đúng là một cửa hiệu buôn. Trước kia,
    còn ở trên ô Hàng Mắm, hiệu Giai Huynh của ông Cử chỉ là một gian nhà dùng làm nơi để ngồi
    viết giúp giấy tờ giao dịch với sở Thương chính của ta và sở Thương chính của nước Phú Lãng
    Sa, mà người ta quen gọi là “nhà đoan”. Nhưng từ năm ngoái, dọn xuống nhà mới ở cửa ô dưới
    này cho gần với nhà đoan, mở mang rộng thêm, lại bày bán thêm một số hàng ngoại quý giá
    của Tây và Khách, trông choáng lóe cả mắt. Và tên hiệu cũng được đổi là Lạc Phố cho hợp
    nghĩa hơn. Ông khách xứ Nghệ đến đúng vào lúc cửa hiệu đang đông khách. Trong năm gian
    nhà rộng rãi, chỗ nào cũng lố nhố có người. Thường thường nhiều nhất là những người vào
    xem hàng, cũng có những người vào mua hàng, vào nhờ viết giúp giấy tờ, công việc, có những
    bạn quen thân đến chơi, bàn chuyện thời thế gần xa. Ông khách mới đến tiến lại gần một người
    bán hàng, chào hỏi và nói muốn gặp ông chủ. Người bán hàng chỉ vào một ông quần áo chỉnh
    tề chít khăn lượt chữ nhân ngồi ở đằng sau cái án thư bên trong quầy hàng ở góc nhà đằng kia.
    Khách còn lóng ngóng chưa biết đi lối nào, thì ông chủ ở bên trong án thư đã trông thấy vội
    đứng lên chạy ra, chắp tay vái chào và mời tíu tít:
    − Bẩm quan lớn ạ! Xin rước quan lớn vào chơi. Mời quan lớn đi lối này ạ.
    Khách sững sờ đứng dừng lại ông kia đã chạy ra hẳn tận nơi, chắp tay vái chào lượt nữa rất lễ
    phép, rồi niềm nở mời khách và đi trước dẫn khách vào, mời ngồi lên cái trường kỷ gỗ gụ đen
    bóng nhoáng có chấn song con tiện, kê ở gian giữa. Khách chợt nghĩ ra: “Thôi chết! Tú tài Nam
    Phố! Mình không nhớ ra. Thôi lộ rồi!”. Ông vội tìm cách ứng biến để che đậy ý định thầm kín
    của mình, liền hỏi:
    - Thầy Tú cũng ở đây à? Thầy Tú ạ tôi muốn vào... vào chơi hầu quan phủ Đào... không biết
    thầy ở đây...
    Ông kia đỡ lời ngay:
    − Vâng, vâng ạ. Bẩm xin rước quan lớn ngồi chơi. Ông Cử chúng tôi ở nhà trong, chúng tôi xin
    đi vào mời ra hầu quan lớn ngay ạ.
    Khách đã tự trấn tĩnh lại được, ung dung ngồi vào trường kỷ, hỏi:
    − Còn nhà trong nữa cơ à? Hiệu của các quan to nhỉ.
    − Dạ, bẩm dọn xuống đây có đất mở to. Vả lại nhà ngoài này bày hàng họ, có đông khách ra
    vào, cũng phải có cái nhà trong cho nó tĩnh, có chỗ nghỉ ngơi.
    Ông Tú còn đương đứng nói, thì cánh cửa bên từ nhà trong ra kẹt mở, một người đã đứng
    tuổi mặc áo nhiễu kép đỏ, quần lụa trắng, chít khăn nhiễu tím, rồi ở trong bước ra, ông Tú vội
    nói với khách:
    − Bẩm quan lớn, ông Cử tôi đã ra đấy ạ.
    Rồi quay lại ông Tú giới thiệu với Đào Trọng Kỳ:
    − Thưa bác, có quan Giáo thụ phủ nhà đến chơi!
    Đào Trọng Kỳ vội chắp tay vái chào và đi nhanh đến trường kỷ, ấn mời khách ngồi xuống,

    trong khi ông này đứng dậy vái chào. Kỳ vồn vã nói:
    − Hân hạnh cho hạ dân quá. Nghe danh quan lớn đã lâu, vẫn khao khát muốn đến bái yết tôn
    nhan, nhưng bận những việc tầm thường chưa có dịp nào thỏa lòng mong ước. Xin rước quan
    lớn ngồi.
    Khách ngồi xuống ghế, lễ phép nói:
    − Bẩm quan lớn, từ khi tôi về nhận giáo chức phủ Hoài Đức này đã hơn một năm, vẫn nghe
    tiếng quan lớn ở đây quảng giao hiếu khách, nhưng chưa có dịp may nào để đến hầu tiếp, định
    tết này về quê ra, thể nào cũng sẽ vào hầu quan lớn.
    Đào Trọng Kỳ vội ngắt:
    − Bẩm quan lớn, xin quan lớn tha thứ cho, xá cho lỗi gọi nhau như thế, vì hạ dân đây là kẻ có
    tội, bây giờ làm cái mạt nghệ này.
    Khách cũng cướp lời:
    − Quan lớn nghĩ thế là sai. Đành rằng có tội, nhưng quan lớn có tội với triều đình. Chứ còn
    quan lớn đã đỗ Cử nhân trước bản chức, làm quan đến Tri phủ, trong khi giao du với nhau, vẫn
    phải xưng hô như thế mới phải.
    Ông Tú đứng bên nói xen vào:
    − Hai quan nói đều phải cả, nhưng đệ thiết nghĩ trong làng danh giáo, con cháu đạo thánh cả,
    ta nên gọi thông thường cho nó thân mật hơn.
    Ông Giáo thụ phủ Hoài vội nói ngay:
    − Thầy Tú dạy đúng. Nói kiểu cách quá lại hóa ra khách sáo.
    Rồi ông nói tiếp, thấp giọng hơn và với vẻ chân thành:
    - Đệ định bụng ở quê ra, sẽ vào chơi mừng tuổi quan anh, mà không may, trong bụng lấy làm
    xấu hổ, lại hóa ra là phải thân đến đây nhờ quan anh giúp việc. Thật là đường đột.
    Đào Trọng Kỳ đang bày ngay ngắn lại những khẩu giầu ở trên đĩa cổ cho giầu cau ngay ngắn,
    cũng lấy làm lạ, hỏi:
    − Thưa quan lớn có việc gì kia ạ?
    Khách kể lại việc đi qua khu nhượng địa, bị mất nón chóp và khăn gói. Ông Tú chưa nghe hết
    đầu đuôi, nói ngay:
    − Tây nó đùa đấy! Sao quan lớn không chạy theo vào mà đòi, là nó phải trả. Nó thấy người
    mình hiền nó hay trêu!
    Ông Giáo thụ đáp:
    − Tôi có chạy theo vào xin, nhưng tên lính canh cổng đẩy tôi ra. Tôi chạy đến tòa Thương
    chính nhờ hỏi hộ, người ta chỉ cho tôi ra đây... nhờ...
    Đào Trọng Kỳ nghiêm trang hỏi:
    − Hay là quan lớn có làm gì chúng nó?... Hoặc giả làm cho chúng nó ngờ...?
    − Bẩm không ạ, đệ chỉ thấy cái mũ trắng úp sùm sụp như cái lon giã cua ở trên đầu và đôi
    chân quấn vải chặt như cây gỗ, nên đệ đứng ngây ra mà nhìn...
    Phủ Kỳ bỗng phá lên cười oang oang, vỗ tay vào đùi, nói:
    − Thôi phải rồi! Phải rồi! Nó lạ cái nón lòng chóp bạc của quan lớn, và cả cái khăn gói nữa,
    khăn gói vải đỏ chứ gì,... Đúng, nó cũng lạ như quan lớn lạ cái mũ của nó ấy mà, nên nó muốn
    giữ lấy nó xem. Nó đùa đấy quan lớn ạ.

    Người nhà bưng khay chén và nước sôi ra, ông Tú pha chè rót nước đặt lên bàn. Ông Phủ Kỳ
    đặt một chén nước trước mặt khách và nói:
    − Rước quan lớn xơi nước. Mời quan lớn cứ ngồi đây chơi, để tôi nhờ người hỏi hộ. Nó đùa
    thì nó trả, không ngại.
    Ông khách phủ Hoài nói khẩn khoản:
    − Vì ngôn ngữ bất đồng, nên đệ phải vào đây nhờ quan anh hỏi hộ, để đệ còn xin phép quan
    anh phải vào trình quan Đốc học cho kịp lễ khai giảng đầu xuân ngày kia.
    − Vâng, rước quan lớn cứ ngồi chơi nói chuyện, chúng tôi sẽ cho người đi hỏi ngay...
    Vừa lúc đó ở bên ngoài có tiếng người hỏi vọng vào:
    − Ông Cử có nhà không?
    Đào Trọng Kỳ trông ra vội đứng lên chạy ra reo:
    − A ha! May quá là may, vừa đúng dịp. Xin mời hai ngài vào!
    Ông Giáo thụ Hoài Đức, ông tú Nam Phố cùng đứng dậy đi ra giữa nhà đón chào. Hai người
    khách mới đến vừa lên tiếng hỏi ở ngoài cửa đã bước vào trong nhà. Hai người ăn mặc giống
    nhau, cũng áo kép dài vải thâm tay chẽn, quần lụa trắng rộng phủ lên đôi giầy da đen kiểu Tây
    bọc lấy chân, đi gót kêu cộp cộp. Cũng cái mũ vải cứng vành to trên đầu, cũng một cái cổ trắng
    cao cứng bên trong cổ áo kép; tuy hai người mặc áo dài ngắn khác nhau và có giọng nói khác
    nhau, nhưng riêng lối quần áo, giầy mũ như thế cũng đủ tỏ cho mọi người biết họ là hạng
    người thế nào, từ đâu đến. Cho nên ông Giáo thụ, tuy là khách mới đến, cũng rất vui mừng như
    ông Cử vậy. Hai người vào đến giữa nhà, người thấp bé nói giọng Nam kỳ, đứng sững lại hỏi:
    − Nhà có khách lạ à?... Có bận? Chúng tôi xin ra.
    Đào Trọng Kỳ vội giới thiệu:
    − Bẩm không ạ. Xin mời hai ngài vào chơi. Trình hai ngài đây là quan Giáo thụ phủ Hoài Đức
    chúng tôi, cũng là bạn thanh khí nhà nho cả...
    Ông quay liếc nhìn ông giáo và nói tiếp:
    − ... Và cũng đang có tí việc muốn nhờ các ngài, thật may quá, vừa dịp...
    Rồi ông quay hẳn lại nói với ông giáo, xòe bàn tay ra, cúi đầu chỉ vào người thấp bé nói giọng
    Nam kỳ:
    − ... Trình quan lớn, đây là quan thông ngôn Lộc người Gia Định Sài Gòn, hàm Tri huyện hạng
    nhất, thông ngôn đầu tòa ngoại hạng trong dinh quan Công sứ Kê-la-đích ở khu trường Tây
    Đồn Thủy này...
    Và cúi đầu xòe tay chỉ sang người cao hơn, ông giới thiệu tiếp:
    − ... Còn đây là quan Giáo sư Lê, người Bắc, giỏi chữ La-tinh, chữ Ăng-lê, dạy ở trường cố bên
    Ma Cao, về đây là khách của cụ Kê...
    Ông thông ngôn người Nam kỳ cúi đầu chào và nói:
    − Đã là quan Giáo dạy học, thì là bạn nhau cả, là cùng nghề, là đồng nghiệp, tôi cũng đã dạy
    học, còn quan Giáo sư Lê là giáo chức cao đẳng, dạy những người ra đi dạy các ông giáo. Ngài
    biết giỏi nhiều thứ chữ, cũng như quan Đốc học Trương Vĩnh Ký vậy... Chắc ngài cũng nghe nói
    đến quan Đốc Trương?
    − Dạ bẩm thưa hai ngài, có ạ!
    Ông Giáo thụ mới trả lời được thế, ông thông ngôn đã nói tiếp ngay:
    − Bồng! Tốt. Chúng tôi rất lấy làm sung sướng được gặp một bạn đồng nghiệp... À mà bạn, à

    quên, quan lớn, xin quan lớn thứ lỗi, chúng tôi quen nói theo lối người Phú Lãng Sa, thưa quan
    lớn có việc gì muốn sai bảo chúng tôi?
    Ông giáo luống cuống chỉ biết chắp tay cúi đầu, nói nhỏ nhẻ không rõ tiếng, ông Cử vội nói
    đỡ:
    − Dạ, xin mời hai ngài ngồi chơi đã, mời quan Giáo ngồi chơi ta sẽ nói chuyện.
    Khi mọi người đã ngồi cả vào trường kỷ, hai bên đối diện nhau, Đào Trọng Kỳ mới thuật lại
    việc ông giáo bị mất nón và khăn gói cho tên thông ngôn nghe. Tên này đứng phắt ngay lên,
    chìa tay ra nắm lấy tay ông Giáo thụ lôi đứng dậy và nói:
    − Tây nó thấy quan lớn ngài hiền, nó đùa đấy. Nhưng cũng là đùa nhả, bọn này phải phạt “cỏvê”3 mới được. Đi, ngài đi với tôi để bắt chúng nó phải xin lỗi ngài...
    Quay sang nói với Giáo sư Lê, hắn nói:
    − Bác ngồi đợi tôi đây nhé. Tôi ra ngay.
    Ra khỏi trường kỷ đến giữa nhà, hắn chỉ cái bàn cờ để trên quầy hàng dặn với lại:
    − Ông Cử và ông Tú đem bàn cờ này vào đấu với Giáo sư Lê mấy ván đợi chúng tôi về.
    Đào Trọng Kỳ cũng xun xoe chạy ra cửa nói thêm:
    − Trăm sự trông nhờ ở ngài cả.
    Tên thông ngôn Lộc vội nói:
    − Dạ, đó là phận sự của tôi phải làm chứ!
    Và hắn vội dừng lại:
    − À này quý quán cao danh của quan Giáo thế nào nhỉ? Tôi phải biết để nhờ Tây nó hỏi...
    Ông Giáo thụ phải nói ngay:
    − Tôi quê ở Hà Tĩnh, tên là Hoàng Văn Khải, hiện làm Giáo thụ ở phủ Hoài Đức này.
    − Được rồi, thế ta đi. Tôi nhớ rồi, quan lớn tên là Hoàng Văn Khải. Xin quan lớn bỏ quá cho,
    cái nghề của tôi nó phải thế.
    Hai người liền thoăn thoắt bước xuôi phía Đồn Thủy vừa đi vừa nói chuyện, trông đã có vẻ
    như đôi bạn thân.
    Một hồi lâu sau, hai người trở về nét mặt đều tươi tỉnh phấn khởi. Ở đằng hiệu này, Đào
    Trọng Kỳ với Giáo sư Lê đang mải mê suy nghĩ, cân nhắc những nước đi, ông Tú ngồi chầu rìa
    bên Giáo sư Lê, thỉnh thoảng cũng góp ý mách nước. Ba người đang chụm đầu vào bàn cờ,
    thông ngôn Lộc sồng sộc ở ngoài vào bô bô hỏi:
    − Mấy ván rồi? Có lâu không?
    Đào Trọng Kỳ ngẩng lên trước nói:
    − Chưa được một ván... Thế nào? Xong rồi à? Nhanh thế, có sao không?
    Thông ngôn Lộc hỏi lại:
    − Chưa được một ván cơ à? Sao lâu thế? Thôi hòa nhá. Cánh này đi tốt lắm. Lấy được cả nón
    gói về đây, mà Tây nó phải xin lỗi.
    Ông Tú nói:
    − Thế thì hay! Ta phải ăn mừng.
    Giáo sư Lê nói:

    − Hòa cũng được. Nhưng chưa hạ được ông Cử, chưa hả.
    − Thôi để lúc khác hẵng hay!
    Thông Lộc vừa nói vừa lấy tay xoa quân cờ đi, và nói mấy câu tiếng Tây với Giáo sư Lê, rồi
    hắn quay ra mời ông Giáo, ông Tú cũng cùng ngồi vào trường kỷ, và kể lại chuyện hai người đi
    vào khu nhượng địa như thế nào. Sau khi biết rõ cái việc đáng tiếc này, quan ba cập-ten4 coi
    đội quân ở đấy đã mời quan Giáo thụ vào trong phòng khách, mời quan Giáo uống rượu vang,
    ăn bánh ngọt, trò chuyện hỏi thăm thân mật rồi bắt tên lính kia phải đem nón và khăn gói vào
    nộp trả quan Giáo và xin lỗi ngài. Quan ba cũng chân thành xin lỗi ngài về việc đáng tiếc ấy đã
    xảy ra.
    Thông Lộc cầm cái nón chóp bạc giơ lên và nói tiếp:
    − ... Và đây là cái nón của quan lớn, lông chim lợn đã đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chóp bạc
    chạm trổ tinh vi này, nó đã làm cho tên lính say mê đùa nghịch mà bị lỗi, làm mất thể diện của
    người Phú, đáng lẽ bị phạt nặng lắm. Chúng tôi phải xin mãi, quan cập-ten mới tha phạt “côngsinh”5 chỉ phạt “cỏ-vê” qua loa thôi...
    Đào Trọng Kỳ mỉm cười, nhìn hỏi sang ông Giáo phủ Hoài:
    − Thế nào quan Giáo? Xong xuôi êm ấm rồi chứ?
    Giáo thụ Hoài Đức đáp:
    − Bẩm xong cả rồi ạ. Nón, gói, quần áo, sách vở còn nguyên, không suy suyển. Kể ra người
    Tây cũng lịch thiệp thật. Chỉ vì ngôn ngữ bất đồng mà sinh không hiểu nhau, chứ hai bên cùng
    hiểu biết nhau thì làm gì có chuyện xung đột. Ấy nhờ có quan lớn đây thông ngôn cho, Tây họ
    hiểu ra, họ cứ nắm lấy tay xin lỗi mãi, lúc ra về ông quan ba, ông ấy còn tiễn chân ra mãi đến
    cổng, và miệng cứ nói tốt tốt...
    Rồi ông đứng lên nói với vẻ thành khẩn:
    − Thật là may mắn cho đệ, trước hết là được nhờ ơn hai ngài biết tiếng nói giúp, sau là vì cây
    dây cuốn, nhờ có quan Phủ và ông Tú vun vào cho, đệ được lấy lại đủ nón gói để kịp giờ vào
    hầu quan Đốc, đệ xin ghi lòng cảm tạ. Giờ xin phép các vị cho đệ được lui về lo liệu.
    Phủ Kỳ đứng lên và ba người kia cũng đứng lên theo. Kỳ nói:
    − Không được, quan lớn ạ! Nhất kiến như cựu6, huống chi lại là mộ danh nhau đã lâu; hai nữa
    lại mấy khi được gặp hai quan bên tòa Lãnh sự nước Phú Lãng Sa như thế này. Xin quan cứ lưu
    ở lại chơi với chúng tôi, đến chiều hãy vào dinh học chính cũng chẳng sao.
    Ông tú Nam Phố cũng nói:
    − Xin mời các vị cứ ngồi xuống cả đã. Tiểu đệ xin thưa thế này ạ: Quan Giáo đến chơi với
    chúng tôi là một sự vui, quan Giáo lấy lại được nón khăn gói là hai sự vui, lại có cả quan bên tòa
    Lãnh sự hạnh ngộ thế này là ba sự vui. Chúng tôi xin làm một bữa rượu nhạt cùng họp mặt với
    các vị để mừng ba sự vui ấy, và cũng là để mừng cái ý nghĩa nó biểu hiện đúng với cái tên “Lạc
    Phố” của chúng tôi: Lạc Phố chả là bến vui mà!
    Đào Trọng Kỳ cũng vui vẻ tiếp lời:
    − Quan Giáo ạ, cái lệ ở đây như thế đấy. Chúng tôi làm cái nghề ngọt này chỉ cốt mong được
    giao du cho rộng mà thôi. Trước kia ở cửa ô Ưu Nghĩa cũng vậy. Bốn bể đều là anh em cả.
    Chuyển xuống đây cái ý đấy lại càng rõ ràng hơn. Huống chi hôm nay, hân hạnh có quan thông
    ngôn người trong lục tỉnh, quan Giáo người trong Nghệ Tĩnh, quan Giáo sư gốc gác đâu miền
    Thanh Hóa, Ninh Bình, ông Tú đây chính quê phố phường Hà Nội, còn ngu đệ thì chính quán ở
    tỉnh Đông, như thế rõ là bốn bề Bắc Trung Nam xum họp một nhà, chả là điều đáng vui lắm, cho
    anh em chúng tôi ư! Hẹn chả tầy gặp, mời các quan cứ ở chơi đây đã, bất cứ việc gì cũng xin để
    lại đến chiều. Chiều quan Giáo sẽ vào hầu quan Đốc. Thế mới là duyên may của cửa hiệu Lạc

    Phố chúng tôi.
    Rồi ông đứng lên quay lại bảo ông Tú:
    − Chú Tú đi bảo chúng nó làm cơm rượu thết khách, để tôi ở ngoài giầu nước hầu các quan.
    Và quay sang hỏi quan Giáo thụ:
    − Quan lớn có thích đánh cờ, mời quan đến với quan Giáo sư Lê, ngài đang cay hạ ngu đệ mà
    chưa được.
    Thông ngôn Lộc đế vào:
    − Hay đấy, hai quan Giáo, Giáo sư và Giáo thụ, đồng nghiệp đấu nhau cùng tri thức tâm tư
    “học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện”7, thì chọi nhau mới cân tài, cân sức, hay đấy, tôi và ông
    Cử, chúng tôi xin làm chầu rìa, hầu điếu đóm, có phải không ông Cử?
    Đào Trọng Kỳ quay hỏi vị Giáo sư Lê:
    − Bẩm quan Giáo sư Lê nghĩ thế nào?
    Ông này cười đáp:
    − Tôi rất làm sung sướng được thừa tiếp các vị, hầu chuyện các vị là chính, còn việc đánh cờ
    chỉ là thứ. Tôi nói chân thật như vậy, quan Giáo mà có muốn chơi cờ với tôi, thì tôi cũng xin
    tuân lệnh chủ nhân ở đây.
    Quan Giáo thụ lễ phép nói:
    − Quan Giáo sư có rộng phép thì hạ chức may ra cũng xin đi hầu được mấy nước... Nhưng...
    (quay sang nhìn ông Cử, ông hỏi tiếp) trước khi vào dự cuộc vui, hạ chức muốn chủ nhân cho
    hiểu rõ thêm về cái tên Lạc Phố, có phải là “bến vui” như ông Tú nói không?
    Đào Trọng Kỳ cười đáp:
    − Dạ, bẩm có phần đúng như thế, mà cũng có phần khác. Nó là bến vui, vui vì ở đây là bờ sông,
    ngay ngoài bến, cửa ô mà luôn luôn có người vào ra đông vui thế này, lại có thêm những khách
    tâm giao tri kỷ, nên hiển hiện ra bên ngoài cũng đúng là bến vui. Nhưng về nguồn gốc chữ thì
    nó còn có một nghĩa khác nữa, kín đáo hơn. Đó là: Lạc tức là lạc địa, trong câu “danh giáo tự
    hữu lạc địa” về danh, tự khắc có đất vui riêng, ta tự có riêng đất vui của ta; Phố là làng Nam
    Phố, bến Hàng Bè cũ đây, chỗ này là đất của ông Tú và của cậu cả con quan tuần Lương Chính là
    dân làng Nam Phố. Vậy có nghĩa là đất vui của ta trên làng Nam Phố này chứ chả phải ở đâu ra
    cả.
    Thông ngôn Lộc nói:
    − Thế là quan lớn ẩn giữa thành thị trên bến dưới thuyền chứ cứ gì mà phải ở lâm tuyền mới
    là ẩn.
    Đào Trọng Kỳ nói ngay:
    − Ấy cũng vì thế, nên hễ gặp được bạn là vui ngay, chứ nếu ở lâm tuyền, thì gặp nhau được
    gặp là khó. Cho nên Lạc Phố ở đây, vẫn cứ là vui. Nào giờ thì đệ xin bầy quân cờ để hai quan
    Giáo xuất trận chơi vui.
    Lão bưng bàn cờ đặt lên bàn nước, giữa hai ghế trường kỷ rồi lại ngồi xuống bày quân cờ ra
    bàn. Thông ngôn Lộc ngồi vào trường kỷ bên kia, cũng bày quân cờ phía bên ấy, xong rồi nói:
    − Nào mời hai ngài ra tay! Cần sai bảo gì thì đàn em xin phụng mạng ạ!
    Cả bốn người đều cười vui vẻ. Giáo thụ Hoàng Văn Khải nhường Giáo sư Lê đi trước, nhường
    nhau mãi, Giáo sư Lê mới chịu đi nước đầu tiên. Rồi kế tiếp nhau mỗi bên đi đã được mấy
    nước, bên phía Hoàng Văn Khải, xe, pháo, mã đã xuất trận cả, mã đã nhảy sang sông, xe đã
    nghiến tốt đầu cản bước. Hai người chầu rìa cũng đang chăm chú suy nghĩ theo dõi nước cờ.

    Giáo sư Lê mải mê chống đỡ những nước cờ tấn công nhanh như gió táp, giờ mới nhận rõ lối
    đánh của đối phương, gật gù khen:
    − Ngài Giáo thụ quả là có tài cầm quân dẹp loạn, đáng lương đống chi tài8. Nhưng mà khả dĩ
    công vị tất khả dĩ thủ, vì ngài đánh như thế có thể phải thí xe, thí pháo, thí mã, mà lúc ấy đối
    thủ họ còn giữ được toàn quân thì họ có thể quật lại cũng hăng đấy. Tôi thì khác, tôi chỉ cố thủ
    thôi, cho nên tôi đánh hơi lâu... Và tôi...
    Tự nhiên hắn cao hứng ngâm to lên:
    Đời chiến quốc có anh tài
    Hoàng giang một dải chia đôi sơn hà
    Tướng thần sỹ tốt vào ra
    Bốn phương hợp lại một nhà mới thôi!
    ... Đấy là bài thơ vịnh đánh cờ của tôi, và đó cũng là lòng mong mỏi của tôi, sao cho bốn
    phương hợp lại một nhà mới thôi! Vì thế lối của tôi chỉ là dàn quân bảo vệ:
    Đào Trọng Kỳ cười nói:
    − Đánh thì có hơi chậm mà vị tất đã ăn chắc. Nhưng thơ thì hay và ý nghĩ cao đấy chứ, có
    khẩu khí.
    Thông ngôn Lộc tiếp:
    − Chính tôi cũng sốt ruột nước cờ ăn chắc của Giáo sư Lê. Nhưng tôi cũng thích thơ của ngài
    như ông Cử vậy. Ngài làm thơ nôm bằng tiếng nói thông thường của ta cả, nhưng tính tình cao
    thượng và ý nghĩ sâu xa. Ngài làm được cả thơ chữ nho, thơ chữ La-tinh, thơ Phú Lãng Sa khá
    đấy, vì ngài là nhà bác học.
    Giáo sư Lê vội ngắt:
    − Sao tự nhiên anh lại đâm ra nói nhiều thế. Để yên cho người ta nghĩ, không rối bét, thua bây
    giờ đây này.
    Thông Lộc cũng chẳng vừa, nói chèn:
    − Cậu mà thua là phúc cho người khác, khỏi phải ngồi mà xem, mà ngửi cậu “đủn ìa” ra quần.
    Lặng thà chịu thua đi, rồi mà ngâm thơ cho nhau nghe còn hơn.
    Nhìn qua bao quát cả hai bên, Giáo sư Lê đủng đỉnh vừa đấm tốt biên, vừa nói đầy vẻ tự tin:
    − Đối với moa, thì cờ và thơ đều là phụ cả, vừa đánh cờ vừa ngâm thơ cũng được chứ sao.
    Nhưng mà moa không muốn làm trò cười cho thiên hạ!
    Đào Trọng Kỳ vội nói lấy lòng:
    − Tuy là phụ nhưng đều cao tay cả. Thưa hai quan lớn, thật là “kỳ phùng địch thủ”9 thơ gặp tri
    âm, xin các quan vui lòng vừa cờ, vừa thơ cho thêm phần hào hứng. Rồi sẽ có đàn để thưởng
    rượu mừng quan.
    Thông Lộc nói xen vào:
    − Chúng tôi đã được biết ngón đàn của ông Tú. Còn về phần quan Giáo thụ...?
    Hoàng Văn Khải ngồi im từ nãy, thấy nói đến mình, vội đỡ:
    − Thưa các quan tiểu đệ bất tài cũng xin hầu tiếp các quan, nhưng phận đàn em xin được
    hưởng thụ là chính.
    Mọi người đều cười vui vẻ. Ông Tú đã ở nhà trong ra mời cả bốn người vào phòng khách của
    ông Cử bên trong. Ông đon đả nói:

    − Thưa các quan, xin các quan chuyển cả bàn cờ vào trong thư phòng ở trong ấy sửa soạn
    xong cả rồi, ta vào trong ấy cho ấm cúng, kín đáo.
    Cuộc họp mặt được đưa vào nhà trong, diễn ra trong bầu không khí thân mật hơn. Sau mấy
    ván cờ đọ sức, thi tài, năm người cũng ngồi vào mâm, uống rượu thù tạc nhau rất là tương đắc.
    Giáo sư Lê có ngâm thêm hai bài thơ ngụ ý mình. Bài thơ thứ nhất là bài vịnh Con cóc, ngâm
    khi đang đánh cờ có bốn câu:
    Ung dung chễm chệ ngồi chơi,
    Gan vàng tiếng kể trong đời khiếp thay!
    Muôn dân khổ hạn lâu ngày.
    Mong cho thấy tiếng để rày cậy trông.
    Bài thứ hai vịnh Cái nón, lão ngâm trong tiệc rượu:
    Có người quân tử dựng nên,
    Hình dung chĩn chện ngự trên đầu người,
    Dân con cảm đức tày trời,
    Cứu cơn nắng gắt mưa rơi giữa đồng.
    Mọi người khen lời thơ chải chuốt, có khẩu khí cao thượng và giàu lòng thương dân.
    Cuộc vui kéo dài đến quá trưa. Chủ khách từ biệt nhau, chứa chan tình thân mật lưu luyến.
    ***
    Non một tháng sau, sang đầu tháng hai, một tiệc rượu nữa được mở ra, không ở hiệu Lạc
    Phố, mà lại ở nhà khách của Bá hộ Kim, làng Cựu Lâu. Khách ăn chỉ có bốn người: thông Lộc,
    Giáo sư Lê, Đào Trọng Kỳ và Bá hộ Kim. Chủ nhà là chủ bữa tiệc. Nhưng sáng kiến bày ra cuộc
    họp mặt thân mật và kín đáo này lại do Giáo sư Lê đưa ra đầu tiên. Ngài giáo muốn gặp ông Bá
    và ông Cử để nói chuyện tâm sự riêng, không cần văn hoa gì cả. Bá Kim thấy người ta sốt sắng
    với mình như thế lại càng thêm khấp khởi mừng thầm và phen này có thể được lợi nhiều với
    bọn Tây, do đó càng hết lòng, hết sức thu xếp cho bữa tiệc thật là thịnh soạn, linh đình và thật
    là ấm cúng kín đáo. Khách ngồi ăn ngay ở trong nhà riêng của Bá Kim. Qua chuyện buôn bán,
    chuyện Tây, chuyện Khách, chuyển sang chuyện thời thế..., rượu ngà ngà say, thông Lộc móc ra
    trong túi một tờ giấy lệnh kẻ ô đỏ gấp tư đưa cho Phủ Kỳ và nói:
    - Mời hai ngài đọc hộ cái này.
    Đào Trọng Kỳ giơ tay đỡ lấy, hơi run run, hỏi lại:
    - Thưa, cái gì vậy?
    − Hãy đọc đi đã!
    Phủ Kỳ mở to tờ giấy ra, nhìn qua một lượt những chữ viết chân phương trên những ô vuông,
    chỉ có khác với các tờ giấy công văn là toàn những chữ nôm cả. Lão bắt đầu lẩm bẩm đọc nhỏ
    rồi dần dần thành tiếng:
    “... Dòng dõi chính thống,
    Con cháu vua Lê,
    Bấy lâu nay xót tôn miếu lìa tan,
    Hành động thương con dân điêu đứng.
    Nghĩ ta nay non đức kém tài, có đâu dám mở bài mối cả.
    Sau vì đau tấc dạ, xót sinh linh, giục giã đêm ngày, nên phải ra tay đem xích tử10 đặt ngay chăn

    nệm. Quyết nổi một cơn nồng cháy, trừ thói kẻ gian, dẹp bốn bể sóng càn cho yên trước đã. Ta
    nay đắp dựng nền Hán xã, chớ có điều chống đỡ thiên uy... Các khanh hãy nhớ đức Lê Hoàng,
    mau nghĩ đến đắp xây quốc tộ11.
    Dụ truyền các hạt, cùng biết tuyên hành.
    Lê Hoàng Tôn. Đại thiên hành hóa. Lê Duy Bá.”
    Đào Trọng Kỳ đọc lướt xong, có vẻ luống cuống sợ sệt, lóng ngóng, đặt tờ giấy xuống, chưa
    dám nói gì, có lẽ còn suy nghĩ. Thông Lộc hỏi ngay:
    − Thế nào? Ông Cử sợ à?
    − Dạ!
    Lão chuyển đưa tờ giấy cho Bá Kim, ngẩng lên và hỏi Giáo sư Lê:
    − Bẩm đây là chỉ dụ của đức Lê Hoàng Tôn, mà có lẽ Giáo sư Lê là người đồng tộc.
    Giáo sư Lê vẫn ngồi im, thông Lộc đưa mắt nhìn Giáo sư Lê rồi nhấp nháy, nói v...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là con đường không bao giờ có điểm dừng, càng đi càng tạo ra lối mòn.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHẠM THÁI- KINH MÔN - HẢI DƯƠNG !